Trang chủ Blog Trang 14

Đêm bản Phố

Đêm tôi say tôi nằm bản Phố, rượu Bắc Hà ngưng giọt môi em, men hồng my ủ vàng ngô mỗi độ, mà ai về nồng nhớ thủa Lào Cai. Đêm tôi say bản Phố còn ai…

Từ thị trấn Bắc Hà tôi lại say lả say lơ mà bám lấy con đường uốn lượn tì vai vào sườn núi Hoàng Liên Sơn, nhìn bát ngát thung xanh dưới kia, hoa mận hoa mơ hoa đào lại đang dâng dâng đầy nhựa mà mời chào khách quý. Những ngôi nhà của người Mông như những tổ chim yến cứ bám riết vào vách núi vách đá mà nghễu nghện những tháng ngày Lào Cai.
Đêm Lào Cai, đêm bản phố, đêm hồng my, đêm ngô nếp, đêm những bàn tay thiêm thếp, tong tong giọt béo giọt gầy. Đêm của tôi, đêm say ai, đêm mềm bờ vai, đêm dài cánh mắt, đêm chẳng đi ngang về tắt, đêm tắt mắt giọt buồn, đêm sởi lởi giọt vui. Tôi là ai mà ngang chốn này, tôi là ai mà say nơi này. Là rượu đấy Bắc Hà, là đêm đấy người say bản Phố. Chưng cất từ men hồng my…

Có nhiều khi, ở một nơi nào, nhơn nhao ngày buồn, thườn thượt ngày vui, năm dài tháng ngắn, xòe tay nhìn con đường vắng, nhắm mắt mơ màng bản Phố chiều nao. Nào ai lên chợ một khúc tiêu dao, tôi ướm hỏi đám men nồng còn đang say vào đất, tôi ướm hỏi trái tim em giữa bình minh chất ngất, giọt buồn, giọt tủi Bắc Hà.

Đứng từ một nơi rất xa, ngồi từ một nơi rất xa, tôi ngân nga lòng mình bản Phố, tôi mơ đêm về chảo gang, thùng gỗ, nhóm lửa lò say hạt hồng my. Lại là Giàng Seo Sẩu ngăn bước tôi đi, này ở lại làm trai bản Phố, này ở lại như danh tửu người Mông đã yêu thương chốn này, đã ngả nghiêng chốn này. Mày say, tao say, người người say…

Đã có những ngày tôi theo người dân bản Phố thì thoạt những bãi ngô xanh, lui cui những hạt ngô vàng, nhặt bông hồng my, mà giấu đường đi, uống nước hang Dể, không quên mang về cất rượu. Nhìn Giàng Seo Sẩu trầm ngâm bên thẻ hương đốt đánh dấu thời khắc, bên chiếc thùng gỗ thông cao nửa đầu người, tôi như thấy rượu đang chảy ra từng giọt, nhỏ từ trái tim người Mông.

Này trái tim người Mông mày giấu ở đâu, này mạch nước nguồn cất rượu mày giấu ở đâu, này những bông hồng my mày ken ở đâu, sao rượu về chất ngất, sao men say thơm ngô như hương đang bay lên trên quên tên người Kinh người Mông? Tao ngã dúi đầu, tao say cắm đầu, tao thương tao yêu tao đêm tao nằm bản Phố. Này người Mông mày yêu từ đâu? Này người Mông mày say từ đâu? Đêm đêm tao lên tao say ai hay tao nghiêng như giọt rượu về chầu khi hết tuần hương. Bản Phố đó từng đêm, từng giọt, người Phố đó từng yêu từng thương. Như dòng rượu kia chảy về cuối đường. Những con đường của người Mông, những con đường thấm thoắt tình xuân.

Ai chẳng biết xã bản Phố nằm ở nơi cao nhất của huyện Bắc Hà, Lào Cai. Từ lâu, nơi đây nổi tiếng với nghề nấu rượu ngô men hồng my – loại rượu có vị cay, thơm nồng đặc trưng của người Mông, cay nồng như nỗi nhớ người Mông, cay nồng như yêu thương người Mông, cay nồng như bụng bảo dạ nghĩ về người Mông…

Về nhà người Mông, về người bản Phố mà không được chui vào bếp mà tường tận vị cay men nồng quả là điều đáng tiếc ở đời. Vừa bước vào gian bếp đã thấy mùi men bỗng ngô quấn quýt đâu đây, ngó lên gác bếp những treo thịt xông khói hao gầy quả quyết ứa nguồn dịch vị. Đừng quên người Mông bản Phố sống ở nhà trệt với cấu trúc theo lối xứ lạnh: trong nhà luôn có lò sưởi, có thịt sấy ăn quanh năm, có món “mèn mén”, món “thắng cố” độc đáo rướt ráo tâm hồn.

Đêm ấy ngủ lại ở bản Phố, nhiều đêm sau ngỡ đời bản Phố, nhiều năm sau ngỡ mình bản Phố. Say như chưa từng ai quên tay quên chân, đêm rật rật trôi, rượu sôi trong chõ, bỗng rượu hương my tình tứ mà yêu thương hồng cầu. Đêm gác chân sâu, đêm ngủ từ lâu, rượu của người bản Phố Bắc Hà cứ chảy từ giấc mơ tôi mà say mèm vấn vít Lào Cai, mà say mèm quấn quýt tình ai. Đêm hồng lên nhớ, đêm lịm lên thương, đêm nhường nào biết rượu ủ từ đâu, từng giọt nghiêng, từng giọt tràn, mơ màng những gian bếp Bắc Hàbản Phố. Đêm nằm bản Phố, đành say giấc mơ, đêm mờ bản Phố còn tôi còn ai?

Con hói mùa nước cạn

Tản văn của tác giả Lê Nguyệt, lời bình và giọng đọc Lê Minh, hòa âm và thiết kế Hồ Huy.

Bánh đa vừng là đặc sản quê tôi. Bẻ từng miếng bánh được nướng trên than hoa giòn rụm xúc ít ruột hến kèm ít rau thơm, cả nhà ăn đến no mà vẫn không thấy chán. Ngày đó tôi từng nghĩ, có lẽ đây là món đặc sản ngon nhất trần đời. Còn một loại ốc nữa mà tôi suýt quên kể tên là ốc hút. Quê tôi có nơi còn gọi là ốc sót, ốc nút, ốc vặn…Loại này cũng nhiều nhan nhản như loài hến nhưng có giá thành rẻ nên mẹ tôi vẫn thường cất lại để ăn chứ không bán vì chẳng bõ công. Hoặc mẹ sẽ để nguyên con như vậy rồi đem luộc kèm ít lá bưởi, sả chấm mắm ớt; kì công hơn nữa thì dùng kìm cắt “đít” từng con, ướp thêm ruốc, sả, riềng, mật mía… chế biến món ốc giả cầy. Mùi ốc hút luộc, ốc hút nấu giả cầy dường như vẫn còn thơm ngào ngạt và phảng phất đâu đây trong tâm trí tôi, nhất là vào những buổi chiều mưa lạnh bụng đã ngon ngót đói… Bao năm xa nhà, nay tôi mới lại về ngang qua con hói nhỏ ngày xưa. Nước vẫn cạn nhưng trong hơn, và tôi đoán là chẳng còn mấy loài cá, tôm, ốc có thể sống ở đó nữa. Nhìn sang vườn rau nhỏ của ông Lai, chỉ còn thấy dăm ba cụm cỏ dại, đất cằn cỗi…thấy sao mà nhớ da diết quãng đời tuổi thơ đến thế! Ông giờ đã già yếu, chỉ biết làm bạn với cây gậy nhỏ, quẩn quanh trong nhà. Sang thăm ông, nhắc lại chuyện ngày xưa hai ông cháu chỉ cười, đôi mắt mờ đục của ông nhìn xa xăm như đang hối tiếc điều gì…Xem bài viết gốc

Tiếng quạ kêu sương

Tiếng quạ kêu sương – Tác giả: Ngọc Hà. Lời bình: Trịnh Thu Tuyết. Giiọng đọc: Diệu Hương. Thiết kế hình ảnh và âm thanh: Hồ Huy.

Lớn lên một chút, tôi thấm dần từng nỗi mất mát, đau thương. Bà nội tôi một đời lọ mọ, đầu tắt mặt tối chu toàn cho chồng cho con nên khi về già, lưng bà còng rạp xuống. Bà hiền từ, nhân hậu đến ngờ nghệch. Nhưng trời vẫn chẳng tha những tội lỗi ở một kiếp nào đó xa xưa nên hành bà chí mạng. Bà ốm liệt giường suốt mấy năm trời rồi mới nhắm mắt xuôi tay, bỏ lại ông nội tôi ngác ngác ngơ ngơ mỗi lần nghe quạ khóc…

Lời bình

Đọc và đồng cảm với một bài viết cũng tựa như gặp một người bạn, nhiều khi không có nguyên nhân, nhiều khi vượt ra ngoài mọi suy lý ở đời, chỉ biết tự nhiên, đúng lúc ấy, chợt có cái gì như một chút hẫng trong lòng, vì sự khơi thức mơ hồ, xa xăm nào đó… Chiều đông lạnh, thờ ơ lướt mạng, bắt gặp bài viết mà hình như đã đọc hồi nào trên Tản văn hay, nhưng khi ấy, ý tình mơ hồ và âm thanh tiếng quạ đơn lẻ chưa thực sự chạm vào tâm trí.
Chỉ tới chiều nay, khi trời Hà Nội lạnh khô heo hút, vòm cổ thụ bên đường xơ xác khẳng khiu, đường vắng hoang vu trong cái co ro, hối hả của ai nấy vội vã về nhà, tiếng quạ lạc loài, cô độc trong bài viết của một cô gái còn quá trẻ để có thể biết thương một tiếng quạ buồn mới chợt thấm vào tiềm thức của một kẻ đã cặm cụi đi qua tuổi trẻ của mình rất lâu, tưởng đã quên hết, và chợt nhớ lại tất cả…
Thấy nhớ thế giới ngàn năm của Trương Kế trong tứ thơ đẹp âm u và buồn thê thiết với “Nguyệt lạc, ô đề, sương mãn thiên – Giang phong ngư hỏa đối sầu miên”… Nhớ bức thi họa vĩnh hằng của Basho “Trên cành khô /cánh quạ đậu /chiều thu” – cánh quạ nhỏ bé, tối thẫm, đậu im lìm như một nét chấm phá tĩnh vật trên cành cây khô xác, không sự sống, giữa chiều thu bàng bạc mênh mông… Và những kí ức buồn bã cả về tiếng lẫn hình của một loài chim cô độc, bị con người ruồng bỏ, xa lánh, ghê sợ…bỗng trở lại trong sự cộng hưởng thấm thía với Tiếng quạ kêu sương của tác giả Ngọc Hà.
Bài viết giản dị và chân thật trong từng xúc cảm và suy ngẫm, dòng tự sự miên man trôi chảy từ những mơ hồ ngày thơ ấu tới những chiêm nghiệm thấm đẫm vị thiền, từ cõi vô minh tới sự giác ngộ… Những thay đổi trong xúc cảm và nhận thức của bài viết rất dễ tìm được sự đồng cảm tự nhiên, nhất là không hề khiến người chia sẻ có cảm giác đang bị thuyết phục bằng lý trí, cứ tự nhiên nhi nhiên, như sự vốn phải thế…
Những thay đổi ấy xuất phát chính từ trải nghiệm của tác giả, đặc biệt là sau “một cơn bão lớn” khiến người “xác xơ bầm dập”…, và điều kì lạ là những đốn ngộ đột nhiên minh triết ngay từ những mông lung rối loạn của cảm xúc – từ ấn tượng mang định kiến về tiếng kêu của một loài chim đen đủi đến sự bối rối không thể phân định “tiếng quạ kia là điềm gở hay điềm lành… sự chấm dứt kiếp này là kết thúc hay chính là sự khởi đầu…”, tác giả đã không nhắn nhủ, không khuyên răn, không gửi gắm thông điệp về tiếng quạ, chỉ dịu dàng sẻ chia những cảm nhận, chiêm nghiệm, thật như cuộc đời này, cái thật rất mơ hồ của “tiếng quạ kêu sương”.
Và có thể từ tản văn dịu dàng này, ai đó sẽ bước ra khỏi cõi vô minh của thế giới ngỡ đã phân định rạch ròi, để thấy cõi thăm thẳm mơ hồ nhòa nhạt, như tiếng quạ khắc khoải trong sương buồn…
Trịnh Thu Tuyết

Bay đi bồ công anh

Bay đi bồ công anh – một tản văn của Lê Minh qua giọng đọc Diệu Hương, hòa âm và thiết kế Hồ Huy.

Hương ngâu lưu lạc

Tác phẩm: Hương ngâu lưu lạc. Tản văn: Hoàng Gia Điền, lời bình: Hà Hoài Phương, giọng đọc Minh Hòa, hòa âm và thiết kế: Hồ Huy.


Không quá cầu kỳ để người đọc có cảm giác là xem chữ chứ không phải đọc văn, cũng không quá phóng túng để người đọc có cảm giác hời hợt thiếu tin tưởng, những bài tản của Gia Dien Hoang luôn làm tôi thích thú! Thích thú bởi vì sao ạ? Thích thú bởi lối viết đậm chất tản không lẫn vào đâu được, là sự phong phú trong những trải nghiệm, là một cái tôi chân thành, là một người kể những câu chuyện đời trung thực. Nếu bạn viết tản mà không trung thực thì văn chương đã bỏ đi phân nửa ở một chốn nào... Hương ngâu lưu lạc cũng là một trong những tản văn như vậy!Hồ Huy

Hương ngâu lưu lạc được viết bằng lối văn nhỏ nhẹ, trầm tĩnh, chậm rãi, lôi cuốn người đọc bằng ấn tượng và cảm giác nhưng lại không hề cầu kì. Lối văn ấy hoà hợp với mùi hương toả lan êm đềm trong nỗi nhớ của tác giả, tạo nên sự ngấm sâu vướng vít của hương hoa và hồn người trong thế giới thuộc về hồi ức, kỉ niệm. Chất tự sự, chất thơ, chất trữ tình, chất triết lí, trí tuệ cùng hoà quyện trong Hương ngâu lưu lạc của Hoàng Gia Điền làm sống dậy mùi hương thân quen, bình dị mà thiết tha, xao xác lòng người. Đằng sau mùi hương lưu lạc ấy là tấm lòng trân quý, nâng niu cái đẹp, là ý thức gin giữ những giá trị văn hoá truyền thống, là tâm hồn tinh tế giàu rung động trước con người và cuộc sống, cả những lo âu thảng thốt bất an trước những lãng quên hay xáo động bất thường của đời người.Hà Hoài Phương

Tác giả: Hoàng Gia Điền

Những vườn ngâu thênh thang được trồng thu hoạch hoa làm thương phẩm. Trong gió biển, hương hoa bay phóng khoáng mạnh mẽ. Những cô gái trong vùng như được ướp trong hương hoa mùa thu, lúc nào cũng kiêu kì mà thoáng chút gần gụi mộc mạc…dễ gợi cho người xa lạ những tò mò gợi cảm.

Chịu, không thể nhớ được hôm ấy tôi đã nói gì mà cô gái má ửng hồng, mắt long lanh trong vàng tươi hoa ngâu, nhưng rõ ràng là có đọc một câu thơ của Hàn Mặc Tử : “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc….

Thôi, chép lại một chút cảm xúc để đừng quên, để tìm lại sự yên ổn của lòng mình trong hương ngâu sớm thu nay bỗng bất chợt trở về sau tất cả những gì lưu lạc. Nhưng, có vẻ như không phải cây ngâu ấy lưu lạc, hương hoa ấy lưu lạc mà chính tôi đã lưu lạc trong thế giới này. Xa quá rồi, tôi có tìm về được không?

Đọc bài viết gốc trên Tản Văn Hay

Minh Hòa

Những buổi chiều quên nắng

Một tản văn của Hồ Huy, lời bình Hoàng Khánh Linh, giọng đọc Hồ Nữ Thị, hòa âm và thiết kế Hồ Huy.

Có những ngày buổi chiều quên nắng. Người đàn bà chang chang thừa mình trong xó vắng, rảnh tay thắt một cọng buồn. Có những ngày buổi chiều dư vắng, yêu thương đày đọa mưa tuôn.

Tôi đã đi qua biết bao những buổi chiều còn thơm lên mắt môi như mùi người ta cũ kỹ ủ mùa vào nấm rơm. Tôi đã ngang qua biết bao những buổi chiều, yêu thương về vịn hờ trong dòng tóc liễu buông xuống ven hồ, cô gái lưng chừng đòi thơ. Và lại là những buổi chiều, biết bao nhiêu những buổi chiều phách hồn xiêu vẹo, tôi ngã vào nỗi đau nhân tình, một thủa thoi thóp những mái đình tha hương….

Đọc bài viết gốc Những buổi chiều quên nắng.

[quote style=”default” cite=”Hoàng Khánh Linh”]Ấy là người đàn bà của thế gian này đã lẳng lặng loe lóe vòm đêm. Ấy là người đàn bà Tày của ai kia có thể quên nắng riêng mình nhưng chưa bao giờ quên nắng thắp cho những người thân kẻ yêu. Thế đấy, nắng quên sưởi ấm trên cuộc đời biết bao người đàn bà …nhưng họ tuyệt đối không quên thắp nắng, dệt nắng trên mọi nẻo yêu. Có một lần, duy nhất lần ấy, kẻ tọc mạch Hồ Huy lạc trôi vào xứ sở đầy nắng nhưng trời vẫn sập nắng xuống mái đầu xanh người đàn bà trẻ, để lứa đôi quên yêu nhau. Sau cuộc rong chơi, phiêu lãng chốn nhân gian, Hồ Huy gửi đến chính mình, đến mỗi chúng ta thông điệp nhân văn: Đừng ngắm nhìn một người đàn bà tắt nắng. Kiếp sau, đừng quên nắng những buổi chiều…[/quote]

Đọc Lời bình cho Những buổi chiều quên nắng.

Phố bàng Hồng Hà

Một tản văn của Hoàng Anh Tuấn, viết lời bình và đọc: Lê Minh, hòa âm và thiết kế: Hồ Huy.


Nhà tôi ở phố Hồng Hà, một con phố nhỏ chạy dọc ven bờ sông Hồng, vì vậy mà tên phố cũng mang tên sông. Sông thì trôi mãi ra biển, còn phố thì chạy đến ngang bãi soi nhập vào phố Soi Tiền, một con phố ở phía trước của bãi soi mọc đầy lau sậy. ​Phố Hồng Hà trồng toàn bàng. Những cây bàng mọc hai bên vỉa hè, nhưng chúng cố nhoài người ra đường rồi đan kín vào nhau tạo nên một vòm bàng hun hút. Vòm bàng kín mít đến nỗi mà nắng hè không lọt qua được, nhưng vẫn miệt mài chiếu rọi trên cao nên ánh sáng lọc qua vòm bàng vừa xanh, lại vừa trong như màu chuỗi ngọc trên cổ bà nội mà ngày lễ tết bà mới lấy ra đeo, có khi giống màu vỏ chai bia Trung Quốc mà bố tôi vẫn tu ừng ực sau mỗi chiều đi xe đạp thể dục.Đọc bài viết gốc

Lê Minh

Dạ quỳnh

Một tản văn của tác giả Châm Võ, lời bình: Nguyễn Hương, biên tập và đọc: Lê Minh, kỹ thuật: Hồ Huy

Send in a voice message: https://anchor.fm/tan-van-hay/message

Ngọn khói làng

Một tản văn của tác giả Trần Lan, viết lời bình Lê Trung Lương, giọng đọc Lê Minh, hòa âm và thiết kế Hồ Huy.

Nương theo ngọn khói chúng tôi lớn lên bằng những trò nướng khoai, nướng cá. Cha mẹ đi làm đồng, trong làng chỉ còn lại toàn bọn trẻ con, đứa lớn giữ đứa bé, ngày hè hay là những ngày nghỉ học thì không biết có bao nhiêu là trò vui. Chỉ cần cái thau cũ cả bọn ra đồng đắp mương tát cá, hồi đó cá nhiều vô kể, chỉ cần tát một hồi là được cơ man nào là cá, cua, to nhỏ đủ loại. Những bếp lửa dã chiến được nhen lên, khói tỏa un tùm, con mắt cay xè mặt mũi lấm lem chúng tôi chia nhau từng con cá con cua ăn thật ngon lành. Cũng có khi cả bọn cầm con dao cùn lên đồng màu đào khoai, tất cả lại hì hụi nhen lửa nướng ngay trên đồng, ngọn khói lại quấn lấy bọn trẻ chúng tôi. Quần áo đầu tóc ám đầy những khói là khói.

Trong làng nhà nào cũng có cái gác phía trên bếp gác đồ cho bồ hóng bám vào, bồ hóng bám càng nhiều càng tốt, quan niệm của người lớn như vậy thì đồ bằng tre đan như rổ rá, thúng mủng,dần sàng mới bền đẹp lâu dài. Chuyện bền đẹp có hay không thì chưa biết nhưng mùi khói, mùi bồ hóng theo người làng đi khắp trong mọi công việc hàng ngày. Quần áo ám mùi thơm của khói, đồ dùng ám bồ hóng,ám mùi khói thật thân thương gần gũi.

Đọc: Ngọn khói làng

Tôi tìm dáng mẹ giữa khói sương

Một tản văn của tác giả Hồng Vân, giọng đọc Diệu Hương, lời bình Mộc Nhiên, hòa âm và thiết kế Hồ Huy.

NGHE NHIỀU

GỢI Ý TỪ BIÊN TẬP